Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Cổng thông tin du lịch Ba Bể - Bắc Kạn kính chào quý khách Tiếng Việt English

Bắc Kạn là tỉnh miền núi, nội địa, nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, giáp với 4 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Tỉnh được tái lập ngày 01 tháng 01 năm 1997, hiện có 8 đơn vị hành chính (7 huyện, 1 thị xã) với 122 xã, phường, thị trấn. Diện tích đất tự nhiên 4.859 km2, dân số 300.000 người, gồm 7 dân tộc anh em (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa và Sán Chay) sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%. 

Miền đất giàu tiềm năng phát triển

Bộ mặt đô thị thị xã Bắc Kạn

Bắc Kạn được tự nhiên ưu đãi cho nhiều tiềm năng phát triển kinh tế xã hội với nguồn tài nguyên rừng, đất rừng, khoáng sản phong phú và vườn Quốc gia Ba Bể, nơi có hồ Ba Bể - một trong 20 hồ nước ngọt lớn trên thế giới… Trên địa bàn tỉnh có 165 mỏ và điểm quặng, với các loại khoáng sản có trữ lượng lớn là: Chì kẽm 70 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 4 triệu tấn; sắt có 13 mỏ và điểm mỏ, trữ lượng khoảng 22 triệu tấn; vàng có 17 mỏ và điểm quặng, trữ lượng khoảng 39 tấn; đá vôi xi măng 150 triệu m3; đá trắng, thạch anh khoảng 460 triệu m3; sét xi măng trên 10 triệu m3, ngoài ra còn có antimon, titan, Kaolin, Silic.... Từ đó, Bắc Kạn có triển vọng đầu tư chế biến sâu ở quy mô vừa và nhỏ để nâng giá trị các loại khoáng sản, đặc biệt là ngành sản xuất vật liệu xây dựng. Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn có nhiều hệ suối là đầu nguồn sông Đáy, sông Gâm, sông Chu… lưu vực nhỏ và độ dốc dòng chảy lớn, lòng hẹp và có nhiều thác ghềnh, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các công trình thuỷ điện nhỏ, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp phát triển.

Tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế

Trong những năm qua, dưới sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các bộ, ngành Trung ương, sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền tỉnh, Bắc Kạn đã từng bước có những nỗ lực vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn 2011-2013 ước đạt 12,3%, trong đó: khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 9,1%; khu vực công nghiệp - XDCB tăng 11,21%; khu vực dịch vụ tăng 15,67%.

Rừng trồng tại xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông

Tổng giá trị gia tăng (theo giá hiện hành) năm 2013 ước đạt 6.276 tỷ đồng, tăng 2.734 tỷ đồng so với năm 2010. Thu nhập bình quân đầu người năm 2013  ước đạt 20,4 triệu đồng, tăng 8,5 triệu đồng so với năm 2010.

Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp: Năm 2013, khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 38,86%; khu vực công nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 18,26%; khu vực dịch vụ chiếm 42,88%. So với năm 2010, khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 0,34%, khu vực công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng 1,03%, khu vực dịch vụ giảm 1,37%.

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2011-2013 tăng bình quân 10,44%/năm. Chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 1,72%/năm. Năm 2013, thu ngân sách nhà nước ước đạt 390 tỷ đồng, chi ngân sách nhà nước ước đạt 3.193 tỷ đồng.

Khu vực nông, lâm nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác. Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân giai đoạn 2011-2013 ước đạt 163.384 tấn/năm, lương thực bình quân đầu người đạt 542kg/người/năm. Tổng diện tích gieo cấy lúa ruộng bình quân năm đạt 21.557ha/năm; năng suất bình quân 46 tạ/ha/năm; sản lượng bình quân 100.273 tấn/năm. Tổng diện tích gieo ngô bình quân đạt 16.318ha/năm; năng suất bình quân 37,8 tạ/ha; sản lượng bình quân 62,735 tấn/năm.

Các mô hình cánh đồng đạt 70 triệu đồng/ha trở lên phát triển tốt, công thức luân canh được áp dụng phù hợp với điều kiện của từng địa phương, năm 2013 tổng diện tích canh tác đạt thu nhập 70 triệu đồng/ha ước đạt 2.600 ha.

Trong giai đoạn 2011-2013 toàn tỉnh trồng được 40.408 ha rừng mới, bình quân mỗi năm trồng khoảng 13.469 ha (mục tiêu giai đoạn 2011-2015 trồng 12.000ha/năm). Độ che phủ rừng tăng từ 58% năm 2010 lên 60% năm 2012, năm 2013 ước đạt 61%.

Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai tích cực. Dự kiến đến hết năm 2013, 100% các xã hoàn thành đồ án và đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Lĩnh vực nông nghiệp phát triển đã góp phần quan trọng trong phát triển nông thôn và giảm tỷ lệ đói nghèo. Cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng được cải thiện thông qua các chương trình kiên cố hoá kênh mương, đầu tư xây dựng mới và nâng cấp các công trình thuỷ lợi, giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế.....

Giá trị sản xuất công nghiệp - XDCB của tỉnh hàng năm tăng trưởng bình quân khoảng 15,1%; giá trị sản xuất CN-XDCB (theo giá cố định) năm 2013 ước đạt 1.029 tỷ đồng. Hệ thống cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Thanh Bình đã hoàn thành. Tỉnh đã xây dựng xong Quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp Huyền Tụng, thị xã Bắc Kạn và cụm công nghiệp Pù Pết, huyện Ngân Sơn.

Sản phẩm gỗ ép thanh của Công ty cổ phần Sahabak tại Hội chợ Thương mại Du lịch

tỉnh Bắc Kạn năm 2011

Giá trị sản xuất ngành xây dựng trong giai đoạn 2011-2013 tăng trưởng 14,43%/năm, cùng với đó là các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội với tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn giai đoạn 2011-2013 là trên 11.000 tỷ đồng, trong đó năm 2013 ước đạt 3.800 tỷ đồng, tăng 1.200 tỷ đồng so với năm 2010.

Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ trong những năm qua đạt kết quả khá và ổn định. Giai đoạn 2011 - 2013 tăng trưởng bình quân ước đạt 15,67%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng trưởng nhanh, bình quân 25,68%/năm.

Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch từng bước được quan tâm đầu tư xây dựng. Mạng lưới giao thông phục vụ cho phát triển du lịch đang được đầu tư nâng cấp; hệ thống thông tin liên lạc đã phát triển đến tất cả các huyện và hầu hết các khu, điểm du lịch đáp ứng cho nhu cầu phát triển du lịch.

Cơ sở lưu trú du lịch phát triển nhanh. Số lượt khách du lịch đến Bắc Kạn giai đoạn 2011-2013 ước tăng bình quân 21,19%/ năm, trong đó khách du lịch quốc tế ước tăng bình quân 33,3%/năm, khách du lịch nội địa ước tăng bình quân 43,2%/năm. Doanh thu dịch vụ du lịch năm 2013 ước đạt trên 187 tỷ đồng (tăng 2,4 lần so với năm 2010).

Tỉnh đang khẩn trương hoàn thiện quy hoạch Hồ Ba Bể. Năm 2011 tổ chức UNESCO đã công nhận hồ Ba Bể là Khu Ramsar - vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế. Năm 2012, Hồ Ba Bể được Thủ tướng Chính phủ công nhận Di tích quốc gia đặc biệt, tạo tiền đề thu hút đầu tư phát triển ngành du lịch của tỉnh nói chung và du lịch Ba Bể nói riêng.

Tỉnh đã tổ chức thành công nhiều hội chợ thương mại, xúc tiến đầu tư ngoài tỉnh; mở rộng sự hợp tác với thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tập đoàn kinh tế lớn. Thị trường Bắc Kạn phát triển khá  nhanh, hoạt động kinh doanh, thương mại dịch vụ khá sôi động, hàng hóa lưu thông thuận lợi. Công tác cung ứng hàng hoá chính sách xã hội được đảm bảo và đúng quy định.

Văn hóa xã hội có nhiều chuyển biến tích cực

Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng. Quy mô, các loại hình trường lớp không ngừng được mở rộng, cơ sở vật chất được tăng cường, toàn tỉnh hiện có 52 trường đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục và đã có chuyển biến rõ rệt, số học sinh đoạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi, số học sinh hoàn thành các bậc học và thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng tăng qua các năm. Tỉnh đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục Tiểu học từ tháng 12/1998 và đạt chuẩn phổ cập THCS vào tháng 12/2005, hiện nay đang tích cực triển khai PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi, đẩy nhanh tiến độ PCGD tiểu học đúng độ tuổi, triển khai PCGD trung học ở những nơi có điều kiện.


Các hoạt động văn hoá trên địa bàn tỉnh ngày càng phong phú, đa dạng

Tổ chức bộ máy ngành y tế được kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở. Các chương trình mục tiêu quốc gia về  y tế được thực hiện tốt. Các chỉ tiêu cơ bản về chăm sóc sức khoẻ được nâng cao. Công tác khám chữa bệnh từng bước được nâng cao về chất lượng,các bệnh viện được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại và triển khai nhiều kỹ thuật mới. Đến năm 2013, toàn tỉnh ước có 378 bác sĩ (tỷ lệ 13,4 bác sĩ/vạn dân), tăng 39 bác sĩ so với năm 2010. Số xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế xã tăng từ 49 xã năm 2010 lên 74 xã, phường năm 2013. Tổng số giường bệnh tăng qua các năm, đến năm 2013 ước đạt 800 giường bệnh (25 giường bệnh/vạn dân).

Công tác lao động việc làm, đào tạo nghề và giải quyết việc làm được quan tâm thực hiện. Cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng lao động trong các ngành công nghiệp, XDCB và dịch vụ, giảm lao động trong ngành nông, lâm nghiệp.

Công tác xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 32,13% năm 2010 xuống 20,39% năm 2012 và ước còn 15,39% năm 2013. Đời sống của đại bộ phận nhân dân trong tỉnh từng bước được cải thiện.

Các hoạt động văn hoá, thể dục - thể thao ngày càng phát triển, góp phần nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc trên địa bàn.

Mạng lưới bưu chính, viễn thông đảm bảo thông tin thông suốt và an ninh thông tin phục vụ các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, lực lượng vũ trang trên địa bàn, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân, nhất là trong các dịp lễ tết và các hoạt động lớn của tỉnh. Tỷ lệ cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước trực thuộc tỉnh có trang/cổng thông tin điện tử là 23/28, đạt 82,1%. Dịch vụ bưu chính đã được phục vụ đến từng xã, duy trì đảm bảo 100% xã có báo đến trong ngày.

Lễ khai trương hệ thống thông tin chính quyền điện tử tại UBND thị xã Bắc Kạn

(tháng 04/2010)

 Phát triển kết cấu hạ tầng

Mạng lưới giao thông đường bộ tỉnh Bắc Kạn gồm hệ thống quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường đô thị, đường xã với đường thôn xóm với tổng chiều dài 6.640,46 km, trong đó: Đường Quốc lộ 290,9km (tăng 130,9km so với năm 2010); đường tỉnh lộ: 484,7km (tăng 117,7km so với 2010); Đường đô thị: 196,9km; Đường huyện lộ: 604,1km; Đường xã : 13.063,86km; Đường thôn bản, lối mòn: 4.000km.

Mạng lưới đường bộ trong tỉnh được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu hàng hoá và phát triển du lịch (đường 258, đường 257 - đã hoàn thành, đường nối khu du lịch Ba Bể Bắc Kạn với khu du lịch Na Hang, Tuyên Quang và đường Bờ hồ đi Quảng Khê -  đang đầu tư xây dựng) với các tỉnh bạn, nối liền trung tâm tỉnh lỵ với trung tâm các huyện và trung tâm các xã. Các Quốc lộ đi qua địa phận tỉnh cũng đã và đang được đầu tư xây dựng, nâng cấp như Quốc lộ 3, Quốc lộ 279, Quốc lộ 3B.

Đến nay, tỉnh Bắc Kạn có 3 nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ đi vào hoạt động và hoà lưới điện quốc gia, đó là nhà máy thuỷ điện Thượng Ân - huyện Ngân Sơn, nhà máy thuỷ điện Tà Làng - huyện Ba Bể và nhà máy thuỷ điện Nặm Cắt, thị xã Bắc Kạn, tăng 01 nhà máy so với năm 2010. Hệ  thống cấp điện của tỉnh Bắc Kạn đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh của cả tỉnh. Ước tính đến hết năm 2013, cả tỉnh có trên 93% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia, tăng 18% so với năm 2010.

Hệ thống các đô thị trên địa bàn vẫn còn khá nhỏ bé, diện tích không lớn.  Đến nay, tỉnh Bắc Kạn có 01 đô thị loại 3 (Năm 2012: Thị xã Bắc Kạn được công nhận là đô thị loại 3, đang tập trung các điều kiện để phấn đấu lên thành phố Bắc Kạn vào năm 2015); Xã Vân Tùng - huyện Ngân Sơn chuẩn bị được công nhận là thị trấn Vân Tùng, là trung tâm kinh tế chính trị của huyện.

Mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại có bước phát triển mới. Đến nay toàn tỉnh đã có 65 chợ và 02 siêu thị (tăng 1 siêu thị so với năm 2010).

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 5 trung tâm huyện, thị xã có hệ thống cung cấp nước sạch cho nhân dân, đó là thị xã Bắc Kạn, thị trấn Nà Phặc, thị trấn Chợ Rã, thị trấn Bằng Lũng, thị trấn Yến Lạc năng lực khai thác đạt 8.650m3/ngày đêm và khả năng cấp nước bình quân là 90 lít/người/ngày.

Quốc phòng - an ninh được chú trọng

 An ninh, trật tự trên địa bàn ổn định, tạo môi trường lành mạnh để thu hút đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

***

Bên cạnh những kết quả đạt được, Bắc Kạn vẫn là tỉnh còn gặp nhiều khó khăn so với cả nước. Hiện nay, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đang tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, quyết tâm vượt khó, tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ngang tầm yêu cầu của tình hình mới; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị các cấp trong sạch vững mạnh; đẩy mạnh cải cách hành chính; củng cố quốc phòng - an ninh trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương./.

Tác giả:  Nguyễn Nga
Nguồn: 
Sign In